Hiển thị các bài đăng có nhãn thuthuat. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thuthuat. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2013

Hướng dẫn cài Android 4.3 trên VirtualBox

Android mới ra mắt cách đây không lâu và được cho là có nhiều cải tiến và hoạt động nhanh hơn người tiền nhiện Android 4.2.2. Hiện tại chỉ mới Samsung Galaxy S4 và HTC One mới được cập nhật bản 4.3. Tuy nhiên, nếu bạn nào muốn trải nghiệm bản Android 4.3 thì hãy theo dõi bài viết dưới sẽ hướng dẫn chi tiết cách cài Android 4.3 lên máy ảo VirtualBox.

Chuẩn bị

- Download file cài tại đây http://code.google.com/p/android-x86/downloads/list”
. Trong bài viết này là file “android-x86-4.3-20130725.iso - Đảm bảo VirtualBox (VB) đã được cài đặt. Nếu chưa bạn có thể tải về theo trang
https://www.virtualbox.org/wiki/Downloads
- Sau đó khởi động vào giao diện chính của VB chọn New. Đặt tên cho máy ảo tại ô Name, tại mục Type chọn Linux và chọn Linux 2.6 tại mục Version
- Nhấn Next và cho Ram máy ảo tối thiểu là 256MB, ở đây cho 1GB
- Sau đó cho dung lượng ổ đĩa ảo là 4GB
( Trên là hướng dẫn sơ, nếu bạn nào vẫn thấy khó hiểu thì có thể tham khảo chi tiết tại đây )
- Sau đó vào Settings
- Tại trường Storage chọn CD/DVD drive rồi chọn file Android 4.3 iso

Sau đó nhấn OK

Cài đặt

1. Tại giao diện chính bạn nhấn nút Start. Trên màn hình boot chọn “Installation – Install Android -x86 to hard disk”, Nếu bạn chỉ muốn test thì chọn “Run Android -x86 without installation”

2. Chọn “Create/Modify partitions”

3. Giả sử bạn tạo ổ đĩa 8GB thì bạn sẽ thấy 8587.20MB of Free Space trên màn hình. Dùng nút mũi tên điều hướng tới nút “New” rồi nhấn Enter sau đó chọn “Primary”

4. Bạn sẽ nhìn thấy màn hình như thế này
Chọn “Bootable” rồi chọn "Write" rồi nhấn Enter. Gõ "Yes" rồi nhấn "Quit"

5. Trở lại màn hình chính chọn phân vùng mới tạo rồi nhấn OK

6. Chọn định dạng là “ext3″

7. bấm Yes

8. Chọn “Yes”. Trong màn hình cuối phần cài đặt bạn sẽ thấy màn hình này

Chạy Android 4.3

Khởi động lại máy ảo. Trong lần chạy đầu tiên thì OS sẽ mất thời gian để load cũng như cài đặt file. Sau màn hình Welcome sẽ tới màn hình Setup.

Một số Screenshot






Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2013

Bạn có thực sự cần "chống phân mảnh" máy tính?

Để máy tính nhanh hơn, hầu như mọi người đều thực hiện defragment (chống phân mảnh) cho nó. Nhưng giờ đây bạn có thực sự cần kích hoạt defragment một cách thủ công?

1. Nếu đang sử dụng Windows với ổ SSD
Nếu đang sử dụng ổ SSD (Solid State Drive) trong máy tính, bạn không nên defragment ổ đĩa. Windows 7 đủ thông minh để vô hiệu hóa defragment đối với các ổ SSD. Nếu đang chạy Windows Vista, bạn nên vô hiệu hóa defragment tự động, và nếu đang sử dụng Windows XP với ổ SSD, đừng defragment bằng tay.


2. Nếu đang chạy Windows 7 hoặc Vista
Nếu đang sử dụng Windows 7 hoặc Vista, hệ thống của bạn đã được cấu hình để chạy defragment thường xuyên, thường là vào 1:00 giờ sáng các ngày thứ Tư. Bạn có thể tự kiểm tra bằng cách mở Disk Defragmenter.
Một ngoại lệ cho quy tắc này là, nếu bạn luôn tắt máy tính sau khi sử dụng - hay nói cách khác, nếu không bao giờ để máy tính ở trạng thái nhàn rỗi (idle), công việc defragment sẽ không bao giờ có cơ hội thực hiện. Điều này có lẽ ít xảy ra, nhưng nếu kiểm tra và thấy ổ đĩa của mình đã lâu không được defragment, bạn hãy bắt đầu làm nó một cách thủ công.

3. Windows XP
Windows XP không có trình defragment tự động, do đó sẽ cần defragment ổ đĩa bằng tay một cách thường xuyên. Nhưng mức độ thường xuyên thế nào lại phụ thuộc vào lượng dữ liệu bạn đang tạo ra, tải về, viết và xóa. Nếu là người sử dụng nhiều, bạn cần defragment ổ đĩa mỗi tuần 1 lần còn nếu sử dụng ít, có thể mỗi tháng 1 lần.
Thật may là có một lựa chọn tốt hơn nhiều: bạn có thể sử dụng trình lên lịch công việc (Task Scheduler) để nhanh chóng thiết lập defragment tự động trong Windows XP. Nó khá đơn giản, và có thể cấu hình để chạy bất cứ khi nào bạn muốn.

XHTT

Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

Những nguyên nhân khiến Windows không nhận đủ RAM

Nhiều tình huống Windows không hiển thị đúng dung lượng RAM, đâu là lý do?

Nâng cấp RAM là một trong những công việc được coi là dễ nhất khi nâng cấp máy tính. Bạn chỉ cần mở hai cái nẹp (cố định thanh RAM ở 2 bên, thường là màu trắng), đặt thanh RAM vào khe cắm (cần chú ý chân cắm để cắm đúng vị trí) và kẹp lại để cố định. Thế là xong, bạn hào hứng bật máy lên và tận hưởng thành quả.

Nếu mọi thứ diễn ra suôn sẻ, thông thường hệ thống sẽ khởi động được và Windows sẽ nhận hết tổng dung lượng RAM có trên bo mạch. Tuy nhiên cũng có rất nhiều tình huống hệ thống khởi động được nhưng Windows lại không hiển thị đúng dung lượng RAM (!) Bài viết dưới đây sẽ giúp chỉ ra các nguyên nhân của tình trạng này cũng như giải pháp khắc phục.
Nguyên nhân đến từ HĐH Windows

- Sử dụng Windows 32 bit

Đây là tình huống mà nhiều bạn gặp phải nhất. Trên lí thuyết, dung lượng RAM tối đa mà Windows 32 bit hỗ trợ là 4GB. Tuy nhiên, trên thực tế thì Windows 32 bit chỉ nhận khoảng 3GB (cao nhất là cũng cỡ 3,3GB). 

Vì thế, nếu hệ thống của bạn có tổng dung lượng bộ nhớ lớn 4GB, bạn hãy cài Windows 64 bit để tận hưởng hiệu năng.
- Sử dụng phiên bản Windows giới hạn dung lượng RAM

Một vấn đề khác liên quan đến Windows là giới hạn dung lượng RAM tối đa mỗi phiên bản, mà chúng ta hay phớt lờ. Bạn có thể tham khảo về giới hạn dung lượng RAM của Windows tại :
http://msdn.microsoft.com/en-us/library/windows/desktop/aa366778(v=vs.85).aspx
Chẳng hạn như đối với Windows 7, trên nền 32bit, chỉ có phiên bản Stater (thường được sử dụng cho các netbook nhỏ gọn) bị giới hạn dung lượng RAM đến 2GB. 

Điều đó có nghĩa là nếu bạn mua thêm 1 thanh RAM 1GB gắn vào. Dù trên lí thuyết thì Windows 32bit nhận hết 3GB nhưng vì đây là bản Starter có giới hạn 2GB RAM nên bạn chỉ thấy Windows nhận 2GB RAM. 

Ví dụ trên nền 64 bit, giả sử máy của bạn có đến 24GB RAM, nhưng bạn lại cài phiên bản Home Premium thì Windows chỉ nhận tối đa 16GB mà thôi. Muốn nhận hết 8GB còn lại thì bạn phải sử dụng phiên bản Professional trở lên.
Phần cứng
- Bộ nhớ được phân bổ cho card đồ họa hoặc những phần cứng khác
Các thành phần phần cứng thường sử dụng một phần bộ nhớ RAM để phục vụ cho các nhu cầu xử lý. Bạn thường dễ thấy nhất là ở các card đồ họa tích hợp, chúng thường sử dụng một phần bộ nhớ RAM của hệ thống coi như là bộ nhớ đồ họa cho chúng (mà chúng ta thường gọi với một cái tên quen thuộc: share RAM cho card đồ họa). Ngoài ra, còn một số thành phần cũng sử dụng một phần nhỏ bộ nhớ RAM, chẳng hạn như card mạng,…
Để xác định có bao nhiêu bộ nhớ RAM của bạn được dành riêng cho phần cứng và bao nhiêu RAM mà Windows sử dụng, bạn bấm chuột phải vào Computer chọn Properties. 

Bạn sẽ thấy tổng số lượng RAM mà Windows sử dụng được hiển thị bên cạnh tổng số bộ nhớ hiện có. Trong hình bên dưới: đã có 0,1 GB bộ nhớ RAM được dành riêng cho phần cứng. 

Điều này cũng lí giải tình huống này: rất nhiều máy có 4GB RAM nhưng Windows chỉ có thể sử dụng khoảng 3.8GB dù cài Windows 64bit, vì một phần nhỏ được chia sẻ cho phần cứng.

- Bo mạch chủ giới hạn bộ nhớ RAM
Một trong những nguyên nhân mà nhiều bạn thường phớt lờ đi. Bo mạch chủ đều có giới hạn dung lượng RAM. Thông thường bo mạch trên các dòng laptop phổ thông đều giới hạn dung lượng ở mức 8GB, ngoại trừ một số dòng chơi game, laptop cao cấp có giới hạn dung lượng ở mức 16GB, 32GB. 

Còn trên desktop, các bo mạch thường giới hạn dung lượng ở mức 16GB. Những dòng bo mạch cao cấp thì giới hạn ở mức 32GB, 64GB. Bạn cần lưu ý có một số bo mạch đời cũ thậm chí còn giới hạn cả dung lượng thanh RAM trên mỗi khe cắm.
Để xác định hệ thống có nhận đủ dung lượng RAM sau khi nâng cấp không, bạn vào BIOS Setup (lúc máy khởi động, bạn bấm phím ESC, hay F1, F12 tùy vào nhà sản xuất) và xem mục Memory Information (một số bo mạch khác có thể sẽ hiển thị một cái tên tương đương). 

Nếu BIOS của bạn hiển thị đúng tổng dung lượng bộ nhớ RAM, nhưng Windows thì không nhận đủ, vậy vấn đề liên quan tới Windows. Nếu BIOS của bạn không hiển thị đủ tổng dung lượng bộ nhớ RAM, tức vấn đề có liên quan tới bo mạch.
Thông tin về bo mạch hỗ trợ tối đa bao nhiêu RAM, cũng như giới hạn dung lượng mỗi khe RAM, thì bạn có thể tra cứu trên website của nhà sản xuất.


- RAM bị lỏng

Một tình huống cũng có thể xảy ra nếu như thao tác lắp RAM không có suôn sẻ. Một số bo mạch khiến cho việc lắp RAM trở nên khó khăn khi bạn cần phải sử dụng một lực khá mạnh để đẩy thanh RAM xuống (bản thân người viết đã bị trường hợp này). 

Nếu bạn đã lắp RAM rồi nhưng khi khởi động, hệ thống không nhận đầy đủ RAM (hoặc dung lượng RAM không có thay đổi sau khi lắp thêm RAM,…). Lúc này, bạn cần phải tắt máy, tắt nguồn, tháo pin cẩn thận, kiểm tra lại và đảm bảo thanh RAM đã được gắn chặt, đã được kẹp ở hai đầu thanh RAM.
- Lỗi RAM hoặc khe cắm RAM:

Có một số trường hợp dù bạn đã gắn chặt RAM nhưng hệ thống vẫn không nhận thấy. Nguyên nhân có thể là RAM đã bị lỗi. Bạn có thể sử dụng công cụ kiểm tra lỗi của bộ nhớ RAM bằng cách: bấm nút Start, tại khung Search bạn gõ Memory Diagnostics Tool. 

Hoặc bạn có thể bấm phím TAB để chọn công cụ trong quá trình khởi động. Tuy nhiên, quá trình kiểm tra rất lâu, và bạn phải kiên nhẫn chờ đợi.
Nếu bạn chuyển thanh RAM ở khe này qua khe khác, khe trước đó thì hệ thống nhận thấy được, nhưng khe kia thì hệ thống không nhận được. Nhiều khả năng nhất là khe RAM đó đã bị hư.


Một số nguyên nhân khác

Chắc hẳn cũng có nhiều bạn từng làm cách: bấm Start, trong khung Search bạn gõ msconfig. Cửa sổ System Configuration hiện ra, bạn chọn thẻ Boot, chọn Advanced Options và bạn vô tình giới hạn dung lượng RAM khi Windows khởi động tại mục Maximum Memory. 

Một khi bạn thấy dung lượng RAM bị mất khá nhiều cho dù đã kiểm tra hết tất cả các nguyên nhân trên, thì bạn nên nghĩ đến trường hợp này. Để khôi phục dung lượng RAM, bạn có thể bỏ chọn ô Maximum Memory, sau đó khởi động lại máy.


Kết

Thông thường thì nguyên nhân mất dung lượng RAM thì rơi vào các trường huống trên, và đây là những trường huống khá phổ biến. Tuy nhiên có thể còn có những tình huống khác mà bài viết chưa nói đến, lúc này bạn hãy tra cứu trên mạng hoặc có thể gửi câu hỏi tại bài viết này, người viết sẽ giải đáp.(sưu tầm)

Đố là trái gì?

Lột quần dài thấy quần mỏng Lột quần mỏng còn bộ lông Lột bộ lông thấy cái hột Lấy cái hột còn cái lỗ. -------------------------------...